Kỹ Thuật Nuôi Tôm Càng Xanh

KỸ THUẬT NUÔI TÔM CÀNG XANH THÂM CANH

Để nuôi tôm càng xanh đạt hiệu quả cao, cần đảm bảo chặt chẽ trong khâu kỹ thuật

 

Đặc Điểm Sinh Học

 

-    Tôm Càng nước ngọt phân bố khắp các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới trên thế giới .Hiện nay được biết có trên 100 loài, trong đó hơn một phần tư số này có ở châu Mỹ

-    Chúng có mặt ở hầu hết các vùng nước ngọt nội địa như sông, hồ, đầm lầy, mương ao cũng như các vùng cửa sông. Hầu hết các loài đều cần có nước lợ cho các giai đoạn biến thái của ấu trùng. Một số loài thích nghi môi trường nước trong, một số loài khác gặp trong điều kiện nước rất đục như Tôm Càng Xanh M. rosenbergii

-    Một số quốc gia không có Tôm Càng Xanh phân bố trong tự nhiên như Pháp, Mỹ, khu vực Đài Loan hiện đã di giống về nuôi trong tự nhiên. Thường tôm càng xanh phân bố ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Nhưng chủ yếu là vùng Nam và Đông Nam Châu á, một phần của Đại Tây Dương và vài bán đảo ở Thái Bình Dương. Ở Việt Nam, tôm càng xanh phân bố từ Nha Trang trở vào

-    Hình thái của tôm càng xanh được nhiều tác gi mô t như Holthius; Đức và ctv. (1988 và 1989); Forster và Wickins 1972. Tuy nhiên, ở nước ta trong ao nuôi hay trong khai thác tự nhiên thì xuất hiện 2 dạng tôm càng mà được gọi là tôm càng xanh và tôm càng lửa

-    Tôm càng xanh phân bố ở tất cả các thủy vực nước ngọt (đầm, ao, sông, rạch, ruộng lúa...) và kể cả ở vùng nưóc lợ cửa sông. Trên thế giới tôm phân bố ở khu hệ ấn Độ Dương và Tây Nam Thái Bình Dương. Ở Việt nam, tôm càng xanh phân bố chủ yếu các tỉnh Nam bộ đặc biệt là các vùng nước ngọt và vùng cửa sông ven biển ở Đồng Bằng Sông Cửu Long

 

Đời Sống và Sinh Sản của Tôm Càng Xanh

 

-    Tôm càng xanh có trọng lượng khá lớn, con đực có thể đạt tới 450g/con. Thân tương đối tròn, con trưởng thành có màu xanh dương đậm. Chuỷ phát triển nhọn, 1/2 chuỷ ngoài cong lên, trên mắt chuỷ có 11-15 răng, 3-4 răng sau hốc mắt, mắt dưới thường 12-15 răng. Chiều dài chuỷ của tôm cái khi trưởng thành thường bằng hoặc ngắn hơn vỏ đầu ngực, còn chuỷ tôm đực dài hơn chiều dài vỏ đầu ngực

-    Chân ngực thứ hai luôn luôn phát triển hơn các chân khác, nhất là ở tôm đực trưởng thành, đôi chân ngực thứ 2 có hình dạng và kích thước giống nhau

-    Khi chiều dài bình quân 8-14cm, trọng lượng cơ thể từ 10-20g, tôm càng xanh có sự phát triển tương đương giữa con đực và con cái. Khi chiều dài vượt quá 14cm, con đực thường phát triển nhanh hơn con cái

-    Trong quá trình nuôi, thả nuôi trực tiếp tôm bột (postlarvea) sau 7 tháng nuôi, cá thể đực lớn nhất đạt 110g, cá thể cái lớn nhất chỉ đạt 50g

 

Vòng Đời Có 5 Giai Đoạn Chủ Yếu

 

-    Trứng - ấu trùng - Tôm bột (postlarvae) - Tôm giống (juvenile) - Tôm trưởng thành (adult)

-    Mỗi một giai đoạn, đòi hỏi môi trường và điều kiện sống khác nhau

-    Khi con cái và con đực trưởng thành, ở con cái có trứng chín thì xảy ra hiện tượng lột xác, con đực và con cái tiến hành giao vỹ rồi ấp trứng. Khi tôm đang ấp trứng, buồng trứng vẫn phát triển, phóng thích ấu trùng ở bụng xong, sau 2-5 ngày lại lột xác, giao vỹ và đẻ tiếp

-    Ấu trùng trải qua 8 giai đoạn, mỗi giai đoạn có hình thái và kích thước khác nhau. Giai đoạn 1 dài khoảng 2mm, giai đoạn 11 dài khoảng 7mm

-    Giai đoạn hậu ấu trùng có hình dạng giống như tôm trưởng thành nhỏ, di chuyển chủ yếu bằng cách bò nhiều hơn là bơi lội tự do. Khi chúng bơi thường theo kiểu mặt lưng ở phía trên và tiến về phía trước. Chúng có thể lẩn tránh nhanh nhẹn bằng cách co các cơ bụng lại. Các hậu ấu trùng có khả năng chịu được sự dao động lớn của nồng độ muối

-    Tôm Càng Xanh sinh sản gần như quanh năm. Tuy nhiên, ở những khu vực khác nhau thì các tháng đẻ rộ không trùng nhau. tại Việt Nam mùa đẻ rộ nhất  của Tôm Càng Xanh ở Đồng Bằng Nam Bộ tập trung vào hai thời điểm từ tháng 4 đến tháng 6 và từ tháng 8 đến tháng 10

-    Tôm Càng Xanh trưởng thành ở nước ngọt, thành thục phát dục, giao vĩ và đẻ trứng ở đó, nhưng khi ôm trứng và ấp trứng chúng có xu thế bơi ra vùng nước lợ từ 6-18 phần ngàn

-    Lỗ sinh dục đực nằm ở phần gốc của đôi chân ngực thứ 5 (bộ phận được biểu lộ ra ngoài)

-    Tôm cái có đầu và chân ngực thứ hai nhỏ hơn nhiều so với con đực cùng tuổi. Lỗ sinh dục của con cái nằm ở ức giữa đôi chân bò thứ 3. Trứng chín có màu đỏ da cam, có thể nhìn thấy qua lớp vỏ giáp đầu ngực. Quá trình giao vĩ chỉ có thể  thực hiện được giữa con đực thành thục sinh lý có thể trạng khỏe mạnh với con cái vừa mới hoàn tất lột vỏ gọi là "tiền giao vĩ" (premouting). Có thể chia quá trình giao vĩ thành 4 giai đoạn: Tiếp xúc, Ôm giữ con cái, Trèo lên lưng, Lật ngửa và gắn túi tinh .Sau khi giao vĩ vài giờ tôm cái bắt đầu đẻ trứng

-    Con cái cong mình về phía trước khi bụng và ngực tiếp xúc nhau, tạo nên sức mạnh đẩy đưa trứng từ buồng trứng ra ngoài qua lỗ sinh dục, trứng được thụ tinh ở đây và rơi thẳng vào buồng ấp trứng

-    Buồng ấp trứng được tạo thành bởi màng bụng uốn vào và phần gốc của những chân bụng đầu tiên phát triển dài ra và có những tấm lông cứng, dài để mang trứng khi tôm sinh sản

-    Buồng ấp trứng ở chân bụng thứ 4 được nhận trứng trước tiên, rồi lần lượt chân bụng thứ 3, thứ 2 và cuối cùng là chân bụng thứ nhất. Trong buồng ấp, trứng được bao bọc bởi một màng nhày trong suốt, dính chặt vào các sợi lông ở 4 đôi chân bụng đầu tiên. Trứng thụ tinh được giữ lại ở khoang bụng. Trong quá trình ấp trứng, các đôi chân bụng hoạt động liên tục, cấp dưỡng khí cho trứng phát triển, trứng nào bị hư sẽ bị loại ra bằng đôi chân ngực thứ 2. Số lượng trứng đẻ ra tỷ lệ thuận với trọng lượng tôm cái. Sức sinh sản tương đối trung bình từ 700-1000 trứng/ 1 gam tôm mẹ thành thục

-    Tôm cái có đặc điểm mắn đẻ, gặp điều kiện thuận lợi thức ăn đầy đủ, tôm có thể đẻ 4-6 lần trong năm. Buồng trứng thường tái phát dục khi tôm cái đang mang trứng, phóng thích ấu trùng ở bụng xong sau 2-5 ngày lột xác, giao vĩ và đẻ tiếp . Khoảng thời gian giữa hai lần lột xác tiền giao vĩ ngắn nhất là 23 ngày

-    Trứng có hình hơi bầu dục, dài khoảng 0,6-0,7mm, khi mới đẻ trứng có màu vàng sáng chuyển dần sang màu da cam, đến ngày thứ 12 màu da cam của trứng nhạt dần và ngả màu xám  xanh nhạt, từ màu xám xanh nhạt chuyển dần sang xám đậm, trước khi nở khoảng hai, ba ngày thì trứng ngả sang màu xám đen (màu đen là mắt của ấu trùng còn nằm trong trứng). Như vậy dựa vào màu sắc của trứng có thể  dự đoán được ngày ấu trùng nở

-    Những con cái không giao vĩ nhưng đã thành thục, chín mùi sinh dục cũng có thể đẻ trứng sau khi lột vỏ "tiền giao vĩ" nhưng những trứng không được thụ tinh này chỉ được giữ trong buồng ấp trứng một vài ngày sau đó bị thải ra ngoài. Tôm cái mang trứng dưới bụng và bảo vệ trứng đến khi nở

-    Thời gian tôm cái mang trứng đến khi nở phụ thuộc vào nhiệt độ nước và dao động trong khoảng trên dưới 3 tuần ở nhiệt độ từ 250-310C, thời gian ấp trứng từ 19-23 ngày .Trong điều kiện không có điều nhiệt, nhiệt độ nước dao động từ 260-300C thì thời gian ấp trứng từ 17-23 ngày.

-    Trứng thường nở vào ban đêm, sau 1-2 đêm mới nở hết, ấu trùng được phát tán bởi sự hoạt động nhanh của các chân bụng tôm mẹ. ấu trùng của Tôm Càng Xanh sống phù du và bơi lội tích cực, đuôi hướng về phía trước, bụng ngửa lên trên. Chúng sống trong môi trường nước lợ. Trong tự nhiên, ấu trùng có thể nở ra ở vùng nước ngọt hay nước lợ. Nếu nở ra ở vùng nước ngọt, ấu trùng phải di chuyển ra vùng nước lợ để sống, nếu không di chuyển được sau 3-15 ngày sẽ chết hết. ấu trùng thường sống trong vùng nước có độ mặn từ 7%-18% để tồn tại và phát triển. Thời gian ấu trùng chuyển thành tôm bột nhanh nhất 16 ngày và dài nhất khoảng 40 ngày. Khi chuyển thành tôm bột, chúng sẽ di chuyển về vùng nước ngọt để phát triển và tăng trưởng. Lúc này tôm bột có độ thẩm thấu độ mặn rộng, đó là đặc tính của loài tôm này

-    Tôm bột có chiều dài khoảng 7mm, đặc tính bơi giống tôm trưởng thành, cơ thể có màu trong mờ, phía đầu có màu hơi đỏ

 

Phân Biệt Giới Tính

 

-    Có thể phân biệt tôm đực và cái dễ dàng thông qua hình dạng bên ngoài của chúng.

Tôm đực: có kích cỡ lớn hơn tôm cái, đầu ngực to hơn và khoang bụng hẹp hơn. Đôi càng thứ hai to, dài và thô. ở con đực còn có nhánh phụ đực mọc kế nhánh trong của chân bụng thứ hai. Nhánh phụ đực bắt đầu xuất hiện ở giai đoạn ấu niên khi tôm đạt kích cỡ 30 mm và hoàn chỉnh khi tôm đạt 70 mm. Ngoài ra, ở giữa mặt bụng của đốt bụng thứ nhất còn có điểm cứng.

Tôm cái: thường có kích cỡ nhỏ hơn tôm đực, có phần đầu ngực nhỏ và đôi càng thon. Tôm có 3 tấm bụng đầu tiên rộng và dài tạo thành khoang bụng rộng làm buồng ấp trứng. Cơ quan sinh dục trong của con đực gồm một đôi tinh sào, một đôi ống dẫn tinh và đầu mút. Đôi tinh sào ngoằn ngoèo nằm giữa lưng của giáp đầu ngực được nối với ống dẫn tinh chạy từ trước tim dọc sang hai bên viền sau của giáp đầu ngực và đổ vào đầu mút nằm ở đốt coxa của chân ngực 5

 

Tập Tính Ăn

 

-    Là loài ăn tạp nghiêng về động vật, thức ăn tự nhiên của chúng là các loại nguyên sinh động vật, giun nhiều tơ, giáp xác, côn trùng, nhuyễn thể, các mảnh cá vụn, các loài tảo, mùn bã hữu cơ và cát mịn và tôm cũng ăn thức ăn viên công nghiệp, chúng xác định thức ăn bằng mùi và màu sắc .Tôm tìm thức ăn bằng cơ quan xúc giác (râu), khi tìm được thức ăn, chúng dùng chân ngực thứ nhất kẹp gắp thức ăn đưa vào miệng . Thời gian ấp trứng tôm có thể nhịn ăn vài ba ngày

-    Hình dạng và mùi vị thức ăn đóng vai trò quan trọng trong việc hướng tôm đến bắt mồi. Điều này rất quan trọng trong việc chế biến thức ăn cho tôm

-    Thường bắt mồi nhiều vào chiều tối và sáng sớm, thường bò trên mặt đáy ao, dùng càng nhỏ đưa mồi vào miệng. Đặc tính của tôm càng xanh nếu không đủ thức ăn, chúng hay ăn thịt lẫn nhau khi lột xác, đây là đặc tính của loài. Khi nuôi tôm thương phẩm phải lưu ý đến hiện tượng này và dùng các biện pháp kỹ thuật để hạn chế sự ăn thịt lẫn nhau của tôm .Tôm trưởng thành là loài ăn tầng đáy

 

Lột Xác

 

-    Giống như các loài giáp xác khác, sinh trưởng của tôm không liên tục, có sự gia tăng kích thước nhanh sau mỗi lần lột xác. Tốc độ sinh trưởng của tôm đực và cái gần như tương đương nhau cho tới khi đạt kích cở 35-50g, sau đó khác nhau rõ theo giới tính, tôm đực sinh trưởng nhanh hơn tôm cái và đạt trọng lượng có thể gấp đôi tôm cái trong cùng một thời gian nuôi. Tôm cái khi bắt đầu thành thục (khoảng 40g, hay 140-150cm chiều dài) thì sinh trưởng giảm vì nguồn dinh dưỡng chủ yếu tập trung cho sự phát triển của buồng trứng

-    Một hiện tượng thường thấy trong nuôi tôm càng xanh là sự phân đàn khá rõ kể cả trong cùng một nhóm giới tính. Kích thưóc của tôm có thể đạt 40-50 g trong thời gian 4-5 tháng nuôi khoảng 434 g/cá thể

-    Sinh trưởng, cũng như các loài giáp xác khác, tôm lột vỏ theo chu kỳ, quá trình này được gọi là sự lột xác và tiếp theo sau đó là sự gia tăng đột ngột về kích thước và trọng lượng .Tôm đã trưởng thành, còn có dạng lột xác sinh sản (xảy ra ở con cái).  

-    Chu kỳ lột xác tùy thuộc vào giai đoạn sinh trưởng, tình trạng sinh lý, điều kiện dinh dưỡng, điều kiện môi trường .Chúng tuân theo qui luật chung của tôm là tôm nhỏ chu kỳ lột xác ngắn hơn tôm lớn

 

Thời Gian Lột Xác Của Tôm

 

Trọng lượng (g/con)

Chu kỳ lột xác (ngày)

2-5
6-10
11-15
16-20
21-25
26-35
36-60

9
13
17
18
20
22
22-24

 

-    Cơ chế lột xác của tôm giống như các loài giáp xác chân đốt khác. Khi tôm tích lũy đầy đủ chất dinh dưỡng, năng lượng và tới chu kỳ lột xác thì lúc đó lớp vỏ mới hình thành dần dưới lớp vỏ cũ, lớp này rất mỏng, mềm và co giãn được. Khi lớp vỏ mới phát triển đầy đủ thì tôm tìm nơi vắng và giàu oxy để lột vỏ. Khi lớp vỏ cũ lột đi, dưới áp lực của khối mô cơ lâu ngày bị ép bởi lớp vỏ cũ, cơ thể tôm bấy giờ giãn nở, lớn lên nhiều và khác hẳn với lúc trước lột xác. Lớp vỏ mới cứng dần sau 3-6 giờ và tôm sẽ hoạt động lại bình thường

-    Quá trình lột vỏ thực hiện rất nhanh chỉ trong vòng 3-5 phút. Khởi đầu tôm ngưng hết mọi hoạt động bên ngoài, uống cong mình gây nên áp lực ngày càng tăng phá vở lớp màng giữa giáp đầu ngực và vỏ tạo nên một khoang hở ngang lưng. Tôm lúc này co mình thành hình chữ U, áp lực bên trong cơ thể tăng lên, và dần dần tôm thoát toàn bộ cơ thể qua khoang hở ở lưng. Sau mỗi lần lột xác, cơ thể tôm tăng lên 9-15% trọng lượng thân

 

Môi Trường Sống

 

 

-    Nhiệt độ: tôm là loài thích nghi với biên độ nhiêt độ rộng từ 180-340C, nhiệt độ tốt nhất là 260-310C, ngoài phạm vi nhiệt độ này tôm sinh trưởng chậm hay khó lột xác

-    Mức pH thích hợp nhất cho tôm từ 6.5-8.5, ngoài độ pH này tôm có thể sống được nhưng sinh trưởng chậm, pH dưới 5 tôm hoạt động yếu và chết sau 6 giờ. Khi gặp môi trường có pH thấp tôm sẽ nổi đầu, dạt vào bờ, mang đổi màu, mang và các phụ bộ bị lở loét, tôm bơi lội chậm chạp và chết

-    Oxy hòa tan: môi trường phải có oxy hòa tan > 3 mg/l, dưới mức này hoạt động yếu, tập trung ven bờ, nổi đầu và chết sau vài giờ. Nếu hàm lượng oxy vượt quá mức bảo hòa cũng gây tác hại đến tôm nhất là quá trình hô hấp (chứa nhiều khí trong hệ tuần hoàn, cản trở lưu thông máu)

-    Ánh sáng: vừa phải, cường độ thích hợp nhất là 400 lux. Ánh sáng cao sẽ ức chế hoạt động của tôm, do vậy ban ngày có ánh sáng cao tôm xuống đáy thủy vực trú ẩn, ban đêm hoạt động tìm mồi tích cực. Tôm không ưa ánh sáng có cường độ cao nhưng lại có tính hướng quang vào ban đêm, khi có luồng sáng thì tôm sẽ tập trung lại, và tôm lớn có tính hướng quang kém hơn tôm nhỏ

-    Tôm thích hợp nồng độ muối từ 0-16%o, tôm trưỏng thành sinh trưởng tốt ở vùng cửa sông ven biển

 

Chuẩn Bị Ao

 

-    Làm sạch đáy ao, gia cố bờ ao. Phơi đáy ao, cống từ 10-15 ngày để diệt các mầm bệnh còn lưu trong ao .Cho nước vào xả rửa đáy ao cho thật sạch . Bón vôi nung để điều chỉnh pH đáy ao nuôi

-    Nếu ao bị phèn tiềm tàng nhiều, cần bón lót phân super lân kết hợp với vôi đá nung (CaO) để khử phèn. Sau đó xả rửa lần cuối cùng

 

AO NUÔI TÔM CÀNG XANH TRÊN RUỘNG

 

 

Nguồn Nước Nuôi

 

-    Bơm nước vào ao qua túi lọc bằng vải cotton 2 lớp, có chiều dài từ 8-10m, đường kính khoảng 0.6m. Túi lọc sẽ lọc bớt địch hại và chất dơ, không cho vào ao .Mực nước trong ao phải đạt từ 1,0-1,2m. Sau đó tiến hành lắp ráp hệ thống quạt nước cho ao nuôi. Với ao 2.000m2 lắp 2 giàn quạt, 8-10 cái/dàn (tổng cộng khoảng 20 cánh quạt) . Chạy quạt 8-12 giờ/ngày để gây màu nước và thức ăn tự nhiên trong ao

-    Kiểm tra pH, độ kiềm (pH: 7.0 - 8.5; kiềm = 20 ppm)

 

Diệt Cá Tạp Bằng Dây Thuốc Cá hay Hạt Bã Trà

 

-    Dùng phân NPK hoặc DAP với lượng 1 kg/1.000m2 cho 1 ngày, dùng 2-3 ngày liên tục, dùng lúc nắng gắt. Sau khi dùng phân chạy quạt khoảng 2 giờ

-    Có thể dùng cám bột để gây màu nước với lượng 2 kg/1.000m2 /ngày. Dùng liên tục 3-5 ngày trước khi thả tôm .Thời gian gây màu nước 7-10 ngày

 

DÂY THUỐC CÁ

 

Chọn Giống và Thả Giống

 

 

-    Chọn tôm giống theo các tiêu chuẩn có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng .Kích cỡ đồng đều, thon dài, hoạt động bơi lội nhanh nhẹn. Không bị dị hình, không bị bệnh hay dấu hiệu bất thường như đục thân, mòn phụ bộ, đóng rong. Cỡ tôm 70.000-100.000 con/kg

-    Kiểm tra nước ao nuôi lần cuối cùng trước khi thả tôm. Chủ yếu là pH và độ kiềm, so sánh với nước trong trại tôm để tránh gây sốc cho tôm. Nên thả giống vào buổi sáng sớm hoặc chiều mát

 

Quản Lý Chăm Sóc Ao Nuôi & Quản lý thức ăn

-    Để quản lý và nâng cao năng suất ,ao lớn được khuyến khích chia thành 3 ao tương ứng với 3 giai đoạn phát triển. Diện tích ao tăng lên và mật độ thả giống giảm dần

 

BẢNG PHÂN CHIA

 

Loại ao

Diện tích bề mặt

Mật độ thả giống

Giai đọan nuôi

Cho ăn

Ao ương

2.000 m2

20-25 con/m2

1,5 tháng

4-6 lần/ngày

Ao nuôi chuyển

5.000 m2

5-8 con/m2

2,5 tháng

3-4 lần/ngày

Ao nuôi tôm đực

8.000 m2

1-2 con/m2

2 tháng

3-4 lần/ngày

 

-    Thời điểm cho ăn tùy điều kiện, thời tiết, khoảng cách giữa các bữa ăn tương đối với nhau và đúng giờ tạo cho tôm thói quen ăn theo giờ . Việc cho ăn nên điều chỉnh theo nhiệt độ nước < 250C tôm sẽ giảm ăn .Nhiệt độ < 220C và >350C tôm bỏ ăn

-    Đặc điểm chung của tôm ăn liên tục và những chỗ sạch sẽ. Do vậy, khi cho tôm ăn, rải đều khắp quanh ao, khu vực hành lang cho tôm ăn hoặc vùng sạch do dòng chảy cánh quạt tạo ra. Sau đó lấy tỉ lệ thức ăn đã được chuẩn bị sẵn, bỏ vào nhá để kiểm tra lượng thức ăn cho tôm có đúng không để điều chỉnh tăng hoặc giảm cho bữa sau hoặc ngày sau . Kích thước nhá thường là 100x100 cm. Nhá được đặt xuống đáy ao . Số lượng nhá khoảng 1.500m2/nhá . Số lần cho ăn được tính theo % trọng lượng tôm

 

DƯỚI 3 G

Loại thức ăn

Trọng lượng tôm (g)

Loại thức ăn cho 100.000 con (kg/ngày)

0

0.01 – 0.03

1 – 4

0 + 1

0.03 – 0.10

4 – 6

1 + 2

0.10 – 1.00

6 – 10

2 + 3

1.00 – 3.00

10 – 20

TRÊN 3 G

3

3 – 7

4.5 – 6.0

2p

7 – 10

4.0 – 4.5

3S

10 – 15

3.5 – 4.0

3

15 – 30

3.0 – 3.5

4

30 – 50

2.0 – 3.0

5

> 50

1.5 – 2.0

 

THU HOẠCH TÔM

 

 

 

 

Kỹ Thuật Nuôi Tôm Càng Xanh Trên Ruộng

 

Các hình thức nuôi tôm càng xanh trên ruộng lúa 

 

-    Mô hình 2 vụ lúa xen canh 1 vụ tôm: Ruộng được trồng 2 vụ lúa Hè-Thu và Đông-Xuân. Tôm nuôi kết hợp với lúa Hè-Thu và thu hoạch trước khi bắt đầu vụ Đông Xuân. Mô hình thích hợp cho vùng lũ thấp, vẫn giữ sản xuất lúa

 

-    Mô hình 1 vụ lúa luân canh 1 vụ tôm: Ruộng không trồng vụ lúa Hè-Thu mà chỉ thả nuôi tôm từ khoảng tháng 3-4 và thu hoạch vào tháng 10-11, sau đó trồng 1 vụ lúa Đông-Xuân. Mô hình hiện được áp dụng rộng rãi, đặc biệt là vùng ngập lũ sâu, lúa Hè -Thu không đảm bảo hoặc năng suất thấp do lũ đến sớm.

 

-    Mô hình 2 vụ lúa luân canh 1 vụ tôm: Sau vụ lúa Hè-Thu, tôm được thả nuôi trong mùa lũ đến đầu vụ lúa Đông-Xuân thì thu hoạch để cải tạo ruộng trồng lúa Đông-Xuân. Mô hình này có thời gian nuôi ngắn nên phải tuân thủ đúng thời vụ và phải thả tôm giống có kích cỡ lớn. 

 

NUÔI TÔM CÀNG XANH TRÊN RUỘNG

 

 

Chọn địa điểm nuôi

-    Nhiều yếu tố quan trọng cần xem xét khi chọn địa điểm nuôi tôm trên ruộng. Tốt nhất chọn nơi có mùa ngập lũ, điều kiện đất đai không nhiễm phèn, có hệ thống điện ,kênh ,sông để cấp thoát nước tốt vào đầu vụ nuôi, có khả năng thu mua thức ăn, nhất là thức ăn tươi sống và rẻ (cua, ốc cá tạp), hay có nguồn tôm giống dễ dàng

-    Ruộng nuôi tôm có diện tích từ 0,5-2 ha. Tùy mô hình mà có thể thiết kế ruộng nuôi khác nhau. Đối với mô hình 2 lúa kết hợp 1 tôm thì nhất thiết ruộng phải có mương bao xung quanh, chiếm từ 20-25 % tổng diện tích ruộng. Mương rộng từ 2-3 m và sâu 0,8-1,0 m so với mặt ruộng. Đối với các mô hình còn lại thì ruộng không nhất thiết phải có mương bao mà dùng máy ủi đất mặt ruộng để đắp bờ ruộng cao ,chắc chắn, và ruộng trở thành ao nổi

-    Bờ bao ruộng không nhất thiết là phải cao hơn đỉnh lũ, nhưng tốt nhất cao từ 1-1,2 m . Chân bờ rộng từ 3-4 m .Vào mùa lũ, nên dùng lưới mịn chắn trên mặt bờ bao cao hơn mức nước khoảng 30-40 cm ngăn không cho tôm thoát ra ngoài

-    Trong ruộng nên có khu ương tôm có diện tích khoảng 10% diện tích ruộng nuôi. Khu ương có thể là một ao nhỏ hay được bao ví bằng lưới. Ao ương rất quan trọng vì có thể ương dưỡng và quản lý tôm tốt trong 1 tháng đầu trước khi thả ra nuôi thịt. Đặc biệt, ao ương rất cần thiết đối với mô hình “2 vụ lúa xen canh 1 vụ tôm” nhằm tận dụng thời để gian ương tôm khi đang xạ lúa. Ao cũng cần thiết cho mô hình “2 vụ lúa luân canh 1 vụ tôm” vì phải ương tôm lớn trong thời gian trồng lúa vụ đầu, để có tôm lớn thả ra sau khi thu hoạch lúa 

 

Chuẩn bị ruộng nuôi

 

 

-    Đối với mô hình 2 lúa xen canh 1 tôm, ngoài công tác chuẩn bị ruộng như cày xới để trồng lúa Hè-Thu như bình thường, cần phải chuẩn bị sên vét mương bao, gia cố bờ bao và ao ương, bón vôi cho mương và ao ương tôm giống (15-20 kg/100m2). Khi tiến hành sạ lúa Hè-Thu trên ruộng thì cũng bắt đầu ương tôm giống trong ao ương. Khi tôm ương được 1 tháng thì cho lên ruộng lúa có mức nước thích hợp với lúa

-    Đối với các mô hình luân canh ,sau khi thu hoạch lúa, cần chuẩn bị ruộng nuôi tôm như cắt dọn sạch gốc rạ, sên vét mương bao, bừa trục mặt ruộng, sửa lại bờ bao, lắp các lỗ mọi, hang hốc. Mương bao cần được bón vôi với lượng khoảng 15-20 kg/100m2. Trước khi thả giống lên ruộng vài ngày, cho nước vào ngập mặt ruộng 0,6-0,8 m. Nước cấp vào phải được lọc qua túi lưới lọc mịn, dài để ngăn chặn địch hại. Riêng mô hình 2 vụ lúa luân canh 1 vụ tôm thì phải ương tôm 1-1,5 tháng trước khi thu hoạch lúa Hè-Thu để có tôm giống lớn khi thả nuôi thịt

 

Mật độ và thả giống

 

-    Mô hình 2 vụ lúa xen canh 1 vụ tôm, hoặc 1 vụ lúa luân canh 1 vụ tôm: thời gian nuôi thịt dài ,nên thả giống Postlarvae 15 (1,2-1,5cm)

-    Mô hình 2 vụ lúa luân canh 1 vụ tôm: thời gian nuôi thịt ngắn ,nên cần ương tôm Postlarvae trước đó 1-1,5 tháng, hoặc mua giống lớn 4-6 cm thả nuôi thịt. Tuỳ theo mô hình nuôi, kích cỡ tôm giống và thời gian nuôi thịt , khả năng chăm sóc mà có thể thả với mật độ 3-8 con/m2 ruộng. 

-    Mô hình nuôi tôm xen canh với lúa (Hè-Thu) nên nuôi với mật độ thấp vì mức nước ruộng thấp hơn và khả năng chăm sóc tôm cũng hạn chế hơn

 

Cho ăn và chăm sóc

 

-    Có nhiều loại thức ăn có thể sử dụng cho tôm như thức ăn viên công nghiệp, thức ăn viên tự chế và thức ăn tươi sống. Thức ăn viên công nghiệp cho tôm càng xanh có chất dinh dưỡng đầy đủ và cân bằng. Người nuôi cũng tận dụng các nguyên liệu địa phương

 

Bảng 1: Công thức Phối Chế Thức Ăn Cho Tôm

Nguyên Liệu

Tỷ Lệ (%)

Bột cá

25

Bột đậu nành

20

Cám Gạo

35

Bột mì

10

Bột xương thịt

2

Bột lá gòn

5

Premix

2

Dầu

1

 

-    Thức ăn công nghiệp và thức ăn tự viên tự chế thường được sử dụng chủ yếu trong 2-3 tháng đầu nuôi tôm. Tuy nhiên, trong thời gian lũ, nguồn thức ăn tươi sống như cá tạp, cua, ốc rất phong phú nên được sử dụng chủ yếu trong giai đoạn nuôi tôm lớn nhằm giúp tôm lớn nhanh và giảm chi phí thức ăn

-    Tùy giai đoạn tôm nuôi, lượng thức ăn viên cho tôm ăn hằng ngày được tính theo khối lượng đàn tôm như Bảng 2. Đơn giản, có thể cho tôm ăn ở tháng tuổi thứ 1, 2, 3, 4 và 5 trở lên lần lượt là 8, 6, 4, 3, và 2% trọng lượng đàn .Đối với thức ăn tươi sống có thể dùng lượng gấp 2-3 lần so với lượng thức ăn chế biến. Cho tôm ăn bằng cách kết hợp rải thức ăn khắp ao và sàng ăn. Số lần cho ăn có thể từ 2-4 lần/ngày. Cần theo dõi khả năng bắt mồi của tôm trên sàng ăn và độ no trên dạ dày của tôm để điều chỉnh lượng thức ăn thích hợp

 

Tính Lượng Thức Ăn Cho Tôm

Khối lượng tôm (g/con)

Lượng thức ăn (% khối lượng đàn)

2.5 – 3

6.5

4 – 5

5.5

6 – 9

4.2 – 4.5

10 – 13

3.7 – 4.0

14 – 20

3.0 – 3.5

21 – 27

2.5 – 2.7

28 – 34

1.7– 2.0 

Các bài khác