Kỹ Thuật Nuôi Kỳ Đà

Đặc điểm giống:

 

 

- Trong thiên nhiên loài bò sát này đang ngày càng cạn kiệt và có nguy cơ tuyệt chủng

- Kỳ đà có rất nhiều loài, có loài quý hiếm được ghi trong sách đỏ Việt Nam

- Vóc dáng: Kỳ đà thuộc lớp động vật bò sát, hình dáng bên ngoài trông giống như con thạch sùng (thằn lằn) nhưng to và dài hơn, có thể dài đến 2,5 m - 3 m, nặng khoảng 10 kg

- Đầu hình tam giác nhọn về phía mõm. Mắt có con ngươi thẳng đứng. Có hai chân trước và hai chân sau, mỗi chân có 5 ngón tòe rộng, mặt dưới ngón có các nút bám để đễ leo trèo

- Màu sắc của con vật thay đổi theo màu sắc của môi trường sống để ngụy trang và săn bắt mồi.

 

 Chuồng nuôi:

 

- Chuồng nuôi kỳ đà cũng giống như chuồng nuôi cá sấu, có thể là chuồng lưới hay chuồng xi-măng, chuồng bán mái xi măng, mỗi chuồng nuôi 5 đến 10 con. Trong chuồng, có thể làm hang bêtông hoặc để sẵn một số ống cống phi 0,1 - 0,2 m, dài trên 4 m, xung quanh tô láng để kỳ đà không bám tường leo ra ngoài.. Đảm bảo môi trường thích hợp cho kỳ đà ẩn trú, nghỉ ngơi và phòng tránh nắng nóng… có hệ thống thoát nước hợp lý khi rửa chuồng hay xịt nước tắm cho kỳ đà. Nên trồng cây để tạo cảnh quan và để tránh nắng cho kỳ đà

Diện tích chuồng:  dài 3 m, rộng 2 m, cao 2 m / chuồng 5 đến 10 con

- Vị trí: Nơi có mái che hoặc tận dụng các sân trống để nuôi, chỗ đặt chuồng phải đảm bảo thông thoáng, sạch sẽ, chống gió lạnh thổi vào. Nên lấy ánh nắng buối sáng

 

Nhiệt độ chuồng nuôi:

 

- Kỳ đà là con vật ưa nóng, có thể chịu đựng ở nhiệt độ 600C nhưng không chịu được lạnh dưới 100C, Nuôi sau 1 năm mỗi con có thể đạt trọng lượng 6 - 7 kg

- Thông thường, kỳ đà khi nặng 2 kg thì bắt đầu động dục, mỗi năm chỉ một lần đẻ từ tháng 7 - tháng 10. Sau 4 tháng mang thai, mỗi con kỳ đà trong một giờ đồng hồ đẻ từ 27 - 3P5 trứng, sau 28 ngày ấp công nghiệp, trứng nở kỳ đà con ra đời

- Kỳ đà rất dễ gần nếu như đã quen hơi với người nuôi. Đặc biệt khi kỳ đà thường hay ăn và uống nước vào chiều tối, nên phải thay nước hàng ngày

- Trước khi vào chuồng nuôi phải mang đủ các thiết bị phòng hộ như: kính, găng tay, ủng cao su và nhất là không uống rượu, tránh bị lạ hơi gây sự phản ứng

 

Thức ăn:

 

- Sâu bọ, côn trùng, cào cào, châu chấu, chuồn chuồn, cánh cam, nhện, mối, gián, ong, bướm, cóc, ếch nhái, gà vịt, chim chóc hoặc có thể tập cho kỳ đà ăn mồi không cử động như trứng gia cầm, cua, tôm, cá hay thịt, lòng gia súc, gia cầm (chú ý: tránh sừ dụng mỡ sa của heo vì khó tiêu hóa, và gây sưng phù nề và tổn thương đến gan). Chiều tối thả mồi côn trùng, sâu bọ hay chuột vào chuồng cho kỳ đà ăn. Mỗi con kỳ đà ăn khoảng 2 - 3 con chuột hay ếch nhái… là đủ bữa cho cả ngày. Tuy nhiên, trong chuồng nên đặt sẵn máng đựng thức ăn, nước uống cho kỳ đà ăn, uống tự do

- Trong tự nhiên, kỳ đà có ích cho con người, tiêu diệt chuột, côn trùng. Nuôi kỳ đà không tốn thức ăn đắt tiền mà còn tiêu diệt được chuột, côn trùng, sâu bọ phá hoại mùa màng

 

Không đưa mồi nhiều vào chuồng và phải thường xuyên phân loại vì lý do:

 

1. Không kiểm tra được khẩu phần ăn của từng con

2. Dư thừa thức ăn gây tốn kém và lãng phí, chán ăn và gây ô nhiễm

3. Trưởng thành không đồng đều

4. Ảnh hưởng đến chất lượng và giảm số đầu con

5. Ngăn ngừa cắn nhau, tránh thất thoát. Phát hiện kịp thời và cách ly bệnh để điều trị

 

Tập tính sinh hoạt và môi trường sống:

 

- Môi trường sống của kỳ đà phong phú và đa dạng. Kỳ đà hoang dã có mặt ở hầu khắp các nước khí hậu nhiệt đới, nhất là những vùng rừng núi và thường sống trong những gốc cây, hốc đá, kẽ hở đất, đá

- Ban ngày thường ngủ, nghỉ, ban đêm đi kiếm ăn. Kỳ đà thích ẩn mình trong các hang hốc, thích ngâm mình, săn mồi nơi sông suối giống như cá sấu. Thức ăn của kỳ đà là cóc nhái, gà vịt, tôm cá, thịt động vật loại nhỏ, trong chăn nuôi có thể dùng phụ phẩm để giảm chi phí

 

Sinh trưởng, phát triển và sinh sản:

 

Kỳ đà sinh trưởng, phát triển mạnh sau mỗi lần lột xác (lột da). Sau mỗi lần lột da, nếu chăm sóc nuôi dưỡng tốt tốc độ tăng trưởng của kỳ đà có thể tăng lên 2 - 3 lần. Kỳ đà có thể lột da mỗi năm một lần vào khoảng tháng 8 đến tháng 10

Kỳ đà trưởng thành sau 18 tháng tuổi có thể dài 2,5 m, nặng 7 - 8 kg và bắt đầu đẻ trứng. Trong tự nhiên, kỳ đà đẻ trứng mỗi năm một lứa, mỗi lứa 15 - 17 trứng và chỉ khoảng 30% - 35% trứng có khả năng nở con. Nếu chúng ta tổ chức ấp trứng nhân tạo đảm bảo yêu cầu kỹ thuật thì tỷ lệ ấp nở có thể đạt 70% - 80%

 

Chọn giống và chăm sóc kỳ đà sinh sản:

 

- Chọn những con to khỏe có kích thước trung bình trở lên. Cách nhận biết kỳ đà đực, kỳ đà cái bằng cách lật ngửa bụng con kỳ đà để quan sát gốc đuôi và lỗ huyệt như sau

 

 1. Con Đực: Gốc đuôi phồng to, lỗ huyệt lồi có gờ, bóp vào gốc đuôi thấy gai giao cấu màu đỏ thẫm lòi ra

 2. Con Cái: Đuôi thon nhỏ, lỗ huyệt nhỏ lép, khi bóp vào gốc đuôi không có gai giao cấu lòi ra

 

Thả giống: Thả giống vào chuồng lưới hay chuồng xi-măng. Mỗi chuồng thả 1 con đực với 1 con cái hoặc 1 con đực với  vài ba con cái

 

Kỹ thuật ấp trứng:

 

Những nghiên cứu ở nước ngoài cũng cho thấy, ấp trong tổ mối nhiệt độ trung bình trong tổ mối là từ 280C đến 300C, tùy từng vùng và thời gian kỳ đà đẻ trứng nữa nhưng thời gian nở cũng từ 180 đến 330 ngày, tỷ lệ nở rất cao 50% đến 70%

 

Chuồng ấp trứng:

 

Cách 01:

- Chuồng rộng 1m2 X 2 m, chôn ¼ xuống đất, xây từng 20 cm bằng gạch đinh, đáy chuồng lót 1 lớp gạch tàu. Lấy đất có độ ẩm 25% bỏ vào ½ chuồng ấp, sau đó xử lý thật chặt, tiếp theo rãi thêm 01 lớp cát rồi bỏ trứng vào, dùng nắp đậy kín hoặc bao vải che kín miệng chuồng, khoảng 180 – 250 ngày sau trứng  tự nở

- Khi ấp trứng cần kiểm tra trứng vài lần, nếu thấy các quả trứng to đều, trắng, khô ráo là trứng tốt, những quả vỏ sỉn vàng là trứng hỏng phải loại bỏ ngay

- Nhiệt độ thích hợp trứng nở 280C đến 300C. Lưu ý trong thời gian ấp phải có nhiệt kế để theo dõi

- Trời nóng: tưới nước vào cát để hạ bớt nhiệt độ

- Trời lạnh: dùng bóng điện thắp sáng để tăng nhiệt

- Sau khi nở 3 ngày, bắt đầu cho ăn kỳ đà con ăn ếch, nhái nhỏ

- Sau 30 ngày là có thể xuất bán giống

- Ấp theo phương pháp này, tỷ lệ trứng nở đạt từ 50% - 70%

 

Cách 2:

- Chọn địa điểm thoáng mát .Đào lỗ chôn 2/3 lu, giải cát hoặc đất sét cục nhỏ, xếp trứng lẫn trong lu , bịt nnắp lu bằng vải coton 2-3 lớp rồi cột lại. Định kỳ 5-10 mở ra 1 lần khoảng từ 1-2 giờ đồng hồ . nếu thấy đất khô vẩy vào lu nước tạo độ ẩm

- Các điều kiện khác như nhiệt độ, độ ẩm , chọn trứng ,theo dõi quản lý giống bước 01

 

Kỹ thuật nuôi kỳ đà con: 

Kỳ đà con mới nở thả vào chuồng úm (có khăn sạch để giữa ấm, nên thay khăn 2 ngày 1 lần). Cho uống nước pha Vitamin C, thả nhái nhỏ vào để kỳ đà ăn, trung bình 50 con kỳ đà con 01 tháng tuổi mỗi ngày ăn khoảng 1kg nhái con

 

Chăm sóc nuôi dưỡng:

 

- Chăm sóc nuôi dưỡng kỳ đà giống như nuôi cá sấu. Kỳ đà vừa là nguồn thực phẩm, vừa là nguồn dược liệu quý hiếm, có giá trị kinh tế cao .Chính vì vậy, việc phát triển nghề nuôi kỳ đà tại hộ gia đình là cần thiết và góp phần mang lại hiệu quả kinh tế cao

 

- Vốn đầu tư để chăn nuôi kỳ đà ít và hiệu quả kinh tế cao. Thịt kỳ đà ngon mà không gây cảm giác sợ như thịt cá sấu; mật và lưỡi kỳ đà còn là bài thuốc quý, da kỳ đà với lượng lớn cũng có thể xuất khẩu. Hiện nay, rất nhiều hộ dân ở các tỉnh miền Tây Nam, miền Đông, miền Trung đã bắt đầu nuôi kỳ đà và cho hiệu quả rất khả quan 

 

Quản lý chăm sóc, phòng trị bệnh Phòng bệnh:

 

Kỳ đà là động vật hoang dã nên sức đề kháng cao, ít dịch bệnh. Phòng bệnh tổng hợp là biện pháp phòng bệnh tốt nhất: Chăm sóc nuôi dưỡng tốt, ăn uống sạch sẽ, thức ăn đảm bảo vệ sinh và giá trị dinh dưỡng, chuồng trại luôn sạch sẽ, không lầy lội, không nóng quá, lạnh quá .Tuy nhiên, kỳ đà cũng thường bị một số bệnh

 

 

CÁC BỆNH THƯỜNG GẶP và CÁCH ĐIỀU TRỊ

 

 

 

 Kính chúc bà con chăn nuôi thành công

Các bài khác